Khóa học giao dịch đầu tư hàng hóa phái sinh

Khi nói đến việc học như thế nào để giao dịch hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa, chúng tôi chắc chắn rằng bạn đã nghe nói về hàng trăm "chiến lược bí mật" cũng như "bí quyết" của các nhà đầu tư thành đạt. Bạn có thể nhận được nhiều kinh nghiệm và kiến thức bằng cách đóng học phí cho các nhà đầu tư có kinh nghiệm để họ truyền đạt lại kiến thức cho bạn.

Không cần trả tiền cho khóa đào tạo

Về kiến thức giao dịch hàng hóa phái sinh, bạn có thể nhận được tất cả mọi thứ bạn cần và miễn phí từ trang web của chúng tôi.

Nếu đang tìm kiếm khóa đào tạo nâng cao về giao dịch hàng hóa qua Sở để có kinh nghiệm và khả năng chuyên môn, bạn có thể học hỏi ngay từ hôm nay và chắc chắn một điều, bạn sẽ cảm thấy thú vị với các thông tin, tài liệu đào tạo của chúng tôi dưới đây:

KIẾN THỨC VỀ THỊ TRƯỜNG HÀNG HÓA

Phái sinh là một công cụ mà giá trị của nó phụ thuộc vào giá trị của một loại hàng hóa khác (được gọi là tài sản cơ sở). Các tài sản cơ sở của phái sinh có thể là cổ phiếu, trái phiếu, tỷ giá hối đoái, lãi suất, đặc điểm tín dụng, chỉ số, hàng hóa và có thể là các công cụ phái sinh khác.

Phân loại phái sinh:

  • Phân loại theo tài sản cơ sở: gồm phái sinh tài chính và phái sinh hàng hóa.
  • Phân loại theo sản phẩm hợp đồng: gồm hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn và hợp đồng hoán đổi.
  • Phân loại theo thị trường: gồm phái sinh trên thị trường OTC và trên thị trường niêm yết.

Hợp đồng phái sinh hàng hóa là loai phái sinh lâu đời nhất. Trong phái sinh hàng hóa, tài sản cơ sở chính là những hàng hóa như kim loại (chứa sắt và không chứa sắt), năng lượng và sản phẩm nông nghiệp. Sản phẩm năng lượng bao gồm dầu thô (crude oil), khí tự nhiên (natural oil), dầu hỏa (heating oil), xăng (gasoline), khí propane và điện. Sản phẩm nông nghiệp bao gồm hạt và các hàng hóa nhiệt đới.

Hàng hóa phái sinh được giao dịch theo tất cả các loại: kỳ hạn, tương lai, quyền chọn và hoán đổi.

3.1.Tạo cơ chế xác lập giá

Xác lập giá là hành động xác định giá chung cho một tài sản. Nó xảy ra mỗi khi người bán và người mua tương tác trong một trao đổi có quy định. Do hiệu quả của thị trường tương lai và mức độ phổ biến thông tin nhanh chóng, giá chào mua và chào giá có sẵn cho tất cả người tham gia và được cập nhật ngay lập tức trên toàn cầu.

Cơ chế xác lập giá là kết quả của sự tương tác giữa người bán và người mua, hay nói cách khác giữa cung và cầu và xảy ra hàng ngàn lần mỗi ngày trên thị trường kỳ hạn.

Ví dụ, một nhà giao dịch tại Châu Âu giao dịch hợp đồng tương lai của ngô (C) và một thương nhân ở Úc giao dịch cùng một hợp đồng sẽ thấy giá thầu giống nhau và yêu cầu báo giá trên sàn giao dịch của họ cùng một lúc, có nghĩa là giao dịch này là minh bạch.

Giá các HĐTL trên thị trường giao dịch liên tục thay đổi với cung và cầu, với tin tức từ khắp nơi trên thế giới. Vì mỗi tin tức có thể ảnh hưởng đến cung và cầu của một tài sản cụ thể, người mua và người bán sẽ điều chỉnh giá cả để phản ánh những yếu tố thay đổi này với mỗi giao dịch được thực hiện trong thị trường đó, do đó tại sao giá luôn dao động.

3.2.Phương tiện quản lí rủi ro

Việc giao dịch hàng hóa phái sinh sẽ giúp nhà đầu tư phòng hộ rủi ro khi có nhu cầu giao dịch thực sự tài sản cơ sở và phòng hộ rủi ro liên quan đến biến động giá của tài sản.

Nếu nông dân nghĩ rằng chi phí của lúa mì sẽ giảm do thời điểm thu hoạch sẽ thu hoạch, ông sẽ bán một hợp đồng tương lai trong lúa mì. Điều này có nghĩa là người ta có thể lựa chọn một giao dịch bằng cách bán một hợp đồng kỳ hạn trước và sau đó để lại bằng cách mua nó. Nông dân cần phải phòng ngừa rủi ro giảm giá cây trồng trong khi các hãng hàng không cần phải phòng ngừa nguy cơ tăng chi phí nhiên liệu. Mặt khác, các nhà máy xay xát cần phải phòng ngừa giá cây trồng tăng vì đây là những mặt hàng đầu vào chính của họ.

3.3.Tăng tính hiệu quả của thị trường

Khác với chứng khoán, khi nhà đầu tư muốn tham gia vào thị trường phái sinh hàng hóa thì chỉ cần ký quỹ với sở giao dịch 1 khoản tiền nhỏ trong giá trị danh nghĩa của hợp đồng tương lai (HĐTL) để có thể giao dịch được HĐTL, như vậy số lượng người có thể tham ra giao dịch nhiều hơn, tính thanh khoản thị trường lớn hơn và mức giá của sản phẩm đó được thiết lập cũng chính xác hơn.

Kể từ thời điểm HĐTL hàng hóa lần đầu tiên được giao dịch tại Amsterdan vào thế kỉ 16, sau đó là HĐTL gạo tại Nhật Bản. Trải qua gần 5 thập kỉ phát triển thị trường phái sinh hàng hóa đã phát triển bùng nổ về khối lượng giao dịch cùng với sự đa dạng hàng hóa được sử dụng từ các mặt hàng nông sản lúa, gạo, các loại hạt, ngũ cốc… cho đến các sản phẩm công nghiệp như sắt, thép, dầu hỏa, khí đốt….

Trong khoảng thời gian gần đây, từ tháng 01 -10/2016, khối lượng giao dịch hàng hóa phái sinh đã tăng 31% so với cùng kì năm ngoái với tổng giá trị giao dịch vượt mức 5.5 tỷ đô la Mỹ.

Tại khu vực Châu Á Thái Bình Dương, sự gia tăng khối lượng giao dịch đạt ở mức  32% (chiếm 67% khối lượng toàn cầu) cùng với sự gia tăng ở tất cả các khu vực khác (51% ở EMEA và 15% ở châu Mỹ).

Sự tăng trưởng ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương chủ yếu là do tăng trưởng 199% trên sàn giao dịch Singapore, tăng trưởng 102% tại Sở Giao dịch Tương lai Thái Lan và tăng trưởng 33% tại Trung Quốc đại lục. Giao dịch ở Trung Quốc đại lục chiếm 93% khối lượng giao dịch trong toàn khu vực, chủ yếu là Sở Giao dịch hàng hóa Đại Liên và Sở Giao dịch Kỳ hạn Thượng Hải.

Khu vực châu Mỹ chủ yếu là Tập đoàn CME và Intercontinental Exchange (ICE Futures US và ICE Futures Canada), chiếm 99% tổng số khu vực này.

Hợp đồng tương lai (Futures Contract) là một thỏa thuận để mua hoặc bán một lượng hàng hóa hay công cụ tài chính đã được tiêu chuẩn hóa về chất lượng và số lượng tại một ngày được xác định trước trong tương lai. Những thông số của hợp đồng tương lai được Sàn giao dịch hàng hóa đưa ra chi tiết thông qua một bản đặc tả hợp đồng.

Hợp đồng tương lai hàng hóa là một loại hợp đồng tương lai có loại tài sàn sản cơ sở là hàng hóa. Trong đó, hàng hóa được phân loại theo những nhóm hàng hóa cơ bản như:

  • Sản phẩm nông nghiệp: những sản phẩm như cà phê, đường, lúa, ngô, đậu tương,..
  • Sản phẩm kim loại: bao gồm kim loại công nghiệp (VD:  nhôm, đồng, thép,..) và kim loại quý (VD: vàng, bạc,..).
  • Sản phẩm công nghiệp: cao su,
  • Sản phẩm về năng lượng: như khí đốt, dầu thô,…

Đối với mỗi hợp đồng tương lai hàng hóa được giao dịch trên sàn giao dịch hàng hóa, sẽ được sàn giao dịch công bố chi tiết về bản đặc tả hợp đồng. Bản đặc tả hợp đồng (Specification Contract) cho ta thấy được những nội dung quan trọng nhất của một bản hợp đồng mà các nhà đầu tư cần phải quan tâm. Trong đó, có 4 điểm đặc trưng của loại hợp đồng tương lai là: Số lượng hàng hóa; Tiêu chuẩn chất lượng của hàng hóa; Xác định ngày giao nhận thực tế hàng hóa trong tương lai; Xác định địa điểm giao nhận hàng hóa trong tương lai.

Ví dụ như: Khi nhà đầu tư thực hiện mở vị thế mua một hợp đồng tương lai của ngô, khi đó sẽ chấp nhận mua 5.000 giạ ngô với chất lượng được nêu trong đặc tả hợp đồng là ngô tiêu chuẩn loại 1, được chức nhận theo thang đánh giá của Bộ Nông Nghiệp Hoa Kỳ. Thời gian giao nhận, và địa điểm giao nhận cũng được ghi rõ để nhà đầu tư có thể biết rõ. Đối với những người không có ý định giao nhận hàng hóa thực tế, họ sẽ tất toán hợp đồng ngay trước ngày giao dịch cuối cùng để không bước vào quá trình giao nhận hàng hóa.

Ngoài ra, đặc tả hợp đồng còn nêu chi tiết nội dung về sản phẩm được giao dịch như: Ký hiệu sản phẩm; Bước giá; Giờ giao dịch; Biên độ giá trong ngày; những thông báo về Ngày giao dịch đầu tiên; Ngày giao dịch cuối cùng… Đó là những thông tin rất quan trọng đối với những nhà đầu tư thực hiện giao dịch sản phẩm hợp đồng tương lai phái sinh hàng hóa.

Các chi tiết kỹ thuật của hợp đồng là giống nhau đối với tất cả người tham gia. Đặc điểm của hợp đồng tương lai cho phép người mua hoặc người bán dễ dàng chuyển quyền sở hữu của hợp đồng sang một bên khác thông qua sàn giao dịch hàng hóa. Với việc chuẩn hóa chi tiết kỹ thuật của hợp đồng, biến động duy nhất là giá cả của hợp đồng tương lai khi được giao dịch trên sàn giao dịch. Giá của hợp đồng sẽ được quyết định bởi thị trường, cụ thể là cung và cầu của hàng hóa đó trong tương lai.

Việc giao dịch tập trung cũng đảm bảo rằng hợp đồng sẽ được tôn trọng, loại bỏ rủi ro đối tác. Điều này có nghĩa là khi một hợp đồng tương lai được mua hoặc bán, Sở giao dịch trở thành người mua cho mọi người bán và người bán cho mọi người mua. Điều này làm giảm đáng kể rủi ro tín dụng liên quan đến việc không mua được một người mua hoặc người bán duy nhất.

Tài khoản giao dịch hàng hóa là tài khoản mà khách hàng mở tại các công ty thành viên của sở giao dịch hàng hóa để có thể thực hiện giao dịch hàng hóa phái sinh.

Sau khi được chấp nhận, nhà đầu tư sẽ được cấp 1 tài khoản giao dịch và có thể nộp tiền vào tài khoản để thực hiện các giao dịch, đặt lệnh hay giao nhận hàng thông qua sở giao dịch.

Trên tài khoản giao dịch của mình, nhà đầu tư có thể xem được tất cả các thông tin phục vụ cho hoạt động giao dịch của mình.

  • Các thông tin liên quan đến tiền và các hợp đồng hàng hóa mình nắm giữ.
  • Các dịch vụ đi kèm: rút tiền từ tài khoản, nộp tiền vào tài khoản giao dịch hoặc đăng ký các dịch vụ khác.

Ký quỹ là một quy định được áp dụng trên thị trường hợp đồng tương lai do trung tâm thanh toán bù trừ đưa ra, có hiệu lực đối với cả hai bên giữ vị thế mua và vị thế bán hợp đồng tương lai.Theo đó nhà đầu tư phải nộp và duy trì trên tài khoản của mình một khoản tiền hoặc tài sản để thực hiện nghĩa vụ thanh toán từ giao dịch hàng hóa phái sinh.

Tài khoản ký quỹ : Tiền ký quỹ được nộp vào Tài khoản giao dịch hàng hóa đã được Thành viên của Sở giao dịch cấp cho Nhà đầu tư khi đăng ký mở tài khoản.

Ký quỹ ban đầu (Initial Margin - IM) là việc nộp một khoản tiền nhất định và được chấp nhận ký quỹ trước khi thực hiện giao dịch mở vị thế trên thị trường hàng hóa phái sinh. Giá trị ký quỹ được quy định cụ thể cho từng loại hợp đồng tương lai, thông thường từ 5% đến 15% giá trị vị thế nắm giữ. Nhà đầu tư có trách nhiệm nộp đầy đủ khoản ký quỹ ban đầu vào tài khoản giao dịch hàng hóa trước khi đặt lệnh giao dịch.

Kỹ quỹ duy trì (Maintenance Margin - MM) là số dư tối thiểu mà nhà đầu tư phải đảm bảo trên tài khoản giao dịch hàng hóa trong quá trình duy trì vị thế. Giá trị ký quỹ MM phụ thuộc vào mức độ rủi ro của hợp đồng và từ đó Sở giao dịch sẽ đưa ra mức ký quỹ duy trì phù hợp. MM dùng để đảm bảo thanh toán.

Quyền lợi: Rút tiền ký quỹ

Nhà đầu tư được quyền rút tiền ký quỹ khi đáp ứng với điều kiện tỷ lệ ký quỹ của tài khoản giao dịch hàng hóa của nhà đầu tư sau khi rút không được thấp hơn số tiền ký quỹ ban đầu theo quy định của sở giao dịch; Ngoài ra, tài khoản đề nghị rút tiền không ở trong trạng thái bị đình chỉ giao dịch do vi phạm các ngưỡng giới hạn vị thế hoặc mất khả năng thanh toán.

Nghĩa vụ: Nộp tiền ký quỹ vào tài khoản giao dịch hàng hóa

Nhà đầu tư có trách nhiệm nộp đầy đủ ký quỹ ban đầu cho toàn bộ vị thế dự kiến mở cho thành viên giao dịch trước khi thực hiện giao dịch, ngoại trừ các giao dịch đối ứng.

Tiền ký quỹ giao dịch và thanh toán nộp chẵn theo đơn vị ngàn đồng và không được hưởng lãi.

Khách hàng phải duy trì ký quỹ cho vị thế của mình và phải bổ sung ký quỹ khi giá trị tài sản ký quỹ xuống dưới giá trị ký quỹ duy trì yêu cầu hoặc số dư tiền gửi ký quỹ không đảm bảo tỷ lệ ký quỹ duy trì bằng tiền theo yêu cầu của thành viên giao dịch. Khách hàng phải nộp bổ sung tiền ký quỹ giao dịch chậm nhất vào ngày làm việc tiếp theo. Tùy vào điều kiện thị trường, thành viên giao dịch có quyền yêu cầu khách hàng bổ sung ký quỹ ngay trong phiên giao dịch.

Kể từ ngày thông báo đầu tiên thì khách hàng phải duy trì mức ký quỹ giao nhận hàng hoá vật chất.

Người tham gia vào thị trường giao dịch hợp đồng tương lai hàng hóa có thể nắm giữ vị thế mua (long position) hoặc là vị thế bán (short position). Vị thế mua được thiết lập sau khi một lệnh mua hợp đồng tương lai hàng hóa được thực hiện; người nắm giữ vị thế mua có nghĩa vụ mua tài sản cơ sở khi hợp đồng đáo hạn. Vị thế bán được thiết lập sau khi một lệnh bán hợp đồng tương lai hàng hóa được thực hiện; người nắm giữ vị thế bán có nghĩa vụ bán tài sản cơ sở  cho bên mua vào ngày đáo hạn hợp đồng.

Một vị thế hợp đồng tương lai được xem là ở trạng thái mở khi người nắm giữ vị thế vẫn còn nghĩa vụ phải thực hiện, cụ thể là nghĩa vụ nhận hàng hóa và thanh toán tiền cho bên bán, hoặc nghĩa vụ giao hàng hóa và nhận tiền thanh toán từ phía bên mua của hợp đồng tương lai. Hợp đồng tương lai hàng hóa nếu còn ở vị thế mở thì vào ngày đáo hạn thì sẽ phải thực hiện việc giao nhận hàng hóa vật chất theo như quy định của sàn giao dịch hàng hóa. Khi hợp đồng ở trạng thái mở, người nắm giữ vị thế phải chịu rủi ro từ sự biến động giá trên thị trường, tiềm ẩn khả năng kết thúc vị thế với một khoản lãi/lỗ dự kiến. Đối với những người không muốn tham gia vào quá trình giao nhận hàng hóa vật chất, họ cần phải thực hiện mua/bán bù trừ vị thế để đóng tất cả các vị thế còn đang mở trước khi nhận được thông báo về ý định giao nhận hàng hóa đến từ sàn giao dịch hàng hóa.

Thực tế là có rất nhiều hợp đồng tương lai được đóng vị thế trước thời điểm đáo hạn hợp đồng. Hành động này được gọi là bù trừ vị thế, và được thực hiện bởi hành động giao dịch ngược chiều. Ví dụ: nhà đầu tư đang nắm giữ vị thế mua của một hợp đồng tương lai của Cà phê sẽ đáo hạn vào tháng 9. Như vậy, nếu nhà đầu tư vẫn giữ trạng thái mở vị thế mua, thì vào tháng 9, qua ngày giao dịch cuối cùng, sở sẽ kết nối giữa những người còn đang ở vị thế mở với nhau (số lượng vị thế mở trạng thái mua luôn bằng số lượng vị thế mở ở trạng thái bán) và gửi thông báo về việc giao nhận hàng Cà phê giữa 2 bên. Tuy nhiên, nếu người nắm giữ hợp đồng không có ý định tham gia giao nhận Cà phê thông qua sàn giao dịch hàng hóa, thì người đó có thể thực hiện đóng vị thế lại trước ngày giao dịch cuối cùng. Tức là họ thực hiện một lệnh BÁN loại hợp đồng Cà phê tháng 9 với số lượng hợp đồng bằng với lượng vị thế mua đang nắm giữ. Như vậy, là họ đã bù trừ thành công và trờ về trạng thái là không có vị thế mở. Ngược lại, nếu người nắm giữ hợp đồng ở vị thế bán, họ sẽ phải thực hiện lệnh MUA với cùng loại hợp đồng và số lượng hợp đồng đang nắm giữ. Bằng cách thực hiện bù trừ các vị thế mở như trên, nhà đầu tư sẽ không còn phải quan tâm đến việc tham gia vào quá trình giao nhận hàng hóa vật chất toán  khi đến ngày đáo hạn hợp đồng nữa.

Giao dịch điện tử hoặc giao dịch không giấy là một phương thức kinh doanh hàng hóa, chứng khoán (như chứng khoán và trái phiếu), ngoại hối hoặc các công cụ tài chính phái sinh bằng điện tử. Công nghệ thông tin được sử dụng để kết nối cho người mua và người bán thông qua một nền tảng kinh doanh điện tử.

Giao dịch điện tử đang nhanh chóng thay thế cho giao dịch của con người trên thị trường giao dịch toàn cầu. Giao dịch điện tử trái ngược với giao dịch trực tiếp theo kiểu truyền thống và có nhiều vượt trội.

Với sự cải tiến về công nghệ truyền thông vào cuối thế kỷ 20, sự cần thiết phải có mặt tại một vị trí thực tế trở nên ít quan trọng hơn và thương nhân bắt đầu giao dịch từ các địa điểm xa xôi và đó được gọi là kinh doanh điện tử. Giao dịch điện tử làm cho các giao dịch dễ dàng hơn để hoàn thành, giám sát, rõ ràng và giải quyết, điều này đã thúc đẩy sự phát triển của nó.

Một trong những ví dụ sớm nhất về giao dịch điện tử phổ biến trên toàn cầu là trên Globex, nền tảng kinh doanh điện tử của Tập đoàn CME được hình thành từ năm 1987 và được phổ biến vào năm 1992.

Sở giao dịch hàng hóa Chicago (CBOT) đã tạo ra một hệ thống đối thủ dựa trên nền tảng Oak của Hệ thống Thương mại Oak được gắn nhãn "E Open Outcry".

Được thành lập vào năm 1971, NASDAQ là thị trường chứng khoán điện tử đầu tiên trên thế giới (mặc dù ban đầu nó hoạt động như một bảng thông báo điện tử chứ không phải là cung cấp xử lý trực tiếp theo đường thẳng (Straight-through process - STP)

Ngoài ra còn có rất nhiều hệ thống giao dịch điện tử khác: Bloomberg Terminal, Reuters 3000 Xtra, Thomson Reuters Eikon, BondsPro, Thomson TradeWeb hoặc CanDeal.

Giảm chi phí giao dịch: Bằng cách tự động hóa càng nhiều quy trình càng tốt (thường được gọi là "xử lý thẳng" hoặc STP), chi phí sẽ giảm xuống. Mục đích là để giảm chi phí giao dịch càng gần mức zero càng tốt, do đó khối lượng giao dịch gia tăng không dẫn đến tăng đáng kể chi phí. Điều này đã làm giảm chi phí cho các nhà đầu tư.

Tính thanh khoản lớn hơn: Các hệ thống điện tử giúp dễ dàng cho phép các công ty khác nhau giao dịch với nhau, cho dù họ ở bất cứ đâu. Điều này làm cho tính thanh khoản lớn hơn (nghĩa là có nhiều người mua và người bán), làm tăng hiệu quả của thị trường.

Cạnh tranh mạnh mẽ hơn:  Trong khi giao dịch điện tử không nhất thiết phải hạ thấp sử dụng các dịch vụ tài chính, nó đã loại bỏ các rào cản trong ngành và có hiệu quả cạnh tranh toàn cầu hoá. Ví dụ, một nhà kinh doanh có thể giao dịch tương lai trên Eurex, Globex hoặc LIFFE với một nút bấm – người đó không cần phải thông qua một nhà môi giới hoặc chuyển lệnh cho bất kỳ một người thực hiên giao dịch trên sàn giao dịch.

Tăng tính minh bạch: Giao dịch điện tử có nghĩa là thị trường trở nên rõ ràng hơn. Việc tìm ra giá hàng hóa sẽ dễ dàng hơn khi mà dòng thông tin đang lưu chuyển trên khắp thế giới điện tử.

Mức chênh lệch nhỏ hơn: Chênh lệch giá trên một công cụ là sự chênh lệch giữa giá mua và bán tốt nhất được trích dẫn; nó đại diện cho lợi nhuận được thực hiện bởi các nhà tạo lập thị trường. Sự gia tăng tính thanh khoản, cạnh tranh và minh bạch có nghĩa là sự chênh lệch ngày càng nhỏ, đặc biệt đối với các công cụ giao dịch hàng hóa, giao dịch.

Lệnh thị trường là lệnh mua hoặc bán HĐTL nhưng không ghi mức giá, do người đầu tư đưa ra cho người môi giới để thực hiện theo mức giá khớp lệnh.

Khi sử dụng loại lệnh này, nhà đầu tư sẵn sàng chấp nhận mua hoặc bán theo mức giá thị trường hiện tại và lệnh của nhà đầu tư luôn luôn được thực hiện. Tuy nhiên, mức giá do quan hệ cung - cầu trên thị trường quyết định. Vì vậy, lệnh thị trường còn được gọi là lệnh không ràng buộc.

Lệnh giới hạn là lệnh mua hoặc bán HĐTL do người đầu tư đưa ra thực hiện theo mức giá chỉ định hoặc tốt hơn.

Có hai loại lệnh giới hạn: lệnh giới hạn mua và lệnh giới hạn bán.

  • Lệnh giới hạn mua chỉ ra mức giá mua cao nhất mà người mua chấp nhận thực hiện giao dịch.
  • Lệnh giới hạn bán chỉ ra mức giá bán thấp nhất mà người bán chấp nhận giao dịch.

Một lệnh giới hạn thông thường không thể thực hiện ngay, do đó nhà đầu tư phải xác định thời gian cho phép đến khi có lệnh huỷ bỏ. Trong khoảng thời gian lệnh giới hạn chưa được thực hiện, khách hàng có thể thay đổi mức giá giới hạn. Khi hết thời gian đã định, lệnh chưa được thực hiện hoặc thực hiện chưa đủ mặc nhiên sẽ hết giá trị.

Ví dụ: Mua HĐTL đậu tương 1 tháng 8  ở mức 11,05 đô la/lot có nghĩa là khách hàng chỉ chấp nhận giá từ  từ 11,05 đô la trở xuống. Nếu giá HĐTL đang ở mức 10.85 thì lệnh được khớp còn giá HĐTL ở mức 12 thì lệnh không được khớp

Lệnh dừng là loại lệnh đặc biệt để đảm bảo cho các nhà đầu tư có thể thu lợi nhuận tại một mức độ nhất định và phòng chống rủi ro trong trường hợp giá HĐTL chuyển động theo chiều hướng ngược lại.

            Sau khi đặt lệnh, nếu giá thị trường đạt tới hoặc vượt qua mức giá dừng thì khi đó lệnh dừng thực tế sẽ trở thành lệnh thị trường. Có hai loại lệnh dừng: Lệnh dừng để bán và lệnh dừng để mua.

  • Lệnh dừng để bán luôn đặt giá thấp hơn thị giá hiện tại của HĐTL muốn bán.
  • Lệnh dừng để mua luôn đặt giá cao hơn thị giá của HĐTL cần mua.

Lệnh dừng trở thành lệnh thị trường khi giá HĐTL bằng hoặc vượt quá mức giá ấn định trong lệnh giá dừng. Lệnh dừng thường được các nhà đầu tư chuyên nghiệp áp dụng và không có sự bảo đảm nào cho giá thực hiện sẽ là giá dừng. Như vậy, lệnh dừng khác với lệnh giới hạn ở chỗ: lệnh giới hạn bảo đảm được thực hiện với giá giới hạn hoặc tốt hơn.

Các trường hợp sử dụng lệnh dừng:

  • Sử dụng lệnh dừng để bảo vệ tiền lời của người kinh doanh trong một thương vụ đã thực hiện.
  • Sử dụng lệnh dừng để bảo vệ tiền lời của người bán trong một thương vụ bán khống.
  • Sử dụng lệnh dừng để phòng ngừa sự thua lỗ quá lớn trong trường hợp mua bán ngay.
  • Sử dụng lệnh dừng để phòng ngừa sự thua lỗ quá lớn trong trường hợp bán trước mua sau.

Chẳng hạn, nếu một nhà đầu tư mua HĐTL Tháng Mười Hai của Ngô từ $ 5,00, họ có thể đặt lệnh ngừng bán ở mức $ 4,80 để  đóng vị thế nếu thị trường đi ngược lại đầu cơ ban đầu 20 cent. Tuy nhiên, lệnh mua này cũng có thể được sử dụng để tham gia thị trường. Nếu nhà đầu tư nghĩ rằng một thị trường có thể tiếp tục tăng điểm sau khi đã phá vỡ kháng cự , nhà đầu tư  có thể đặt lệnh dừng mua vào thị trường nếu giá tăng theo giá đã nêu của bạn.

Lệnh dừng giới hạn là một lệnh kết hợp cả đặc tính của lệnh giới hạn (limit order ) và lệnh dừng (stop order). Lệnh dừng giới hạn sẽ được thực hiện ở một mức giá cụ thể sau khi giá thị trường đạt tới mức giá dừng (stop price). Khi mà giá thị trường đạt tới mức giá dừng (stop price) thì lệnh dừng giới hạn sẽ trở thành lệnh giới hạn mua hoặc bán một loại cổ phiếu tại mức giá giới hạn hoặc mức giá tốt hơn.

Chu kỳ giao dịch là quá trình của một hợp đồng tương lai hàng hóa từ khi nhà đầu tư bắt đầu mở vị thế của hợp đồng; duy trì vị thế của hợp đồng trên tài khoản; và cuối cùng là thành toán hợp đồng hoặc chấp nhận đi vào quá trình giao nhận hàng hóa vật chất.

Trong đó: có những vấn đề mà nhà đầu tư cần phải nắm rõ như: (1) Xác định trạng thái lãi/lỗ dự kiến cho các vị thế của HĐTLHH; (2) Giá của HĐTLHH được điều chỉnh hàng ngày theo thị trường; (3) HĐTLHH khi đáo hạn.

Sau khi kết thúc ngày giao dịch, mức lãi/lỗ của từng HĐTLHH được xác định bằng chênh lệch giữa giá thanh toán hàng ngày của ngày hôm đó và ngày giao dịch liền trước, rồi nhân với quy mô của hợp đồng. Với một vị thế mở gồm nhiều hợp đồng, lãi/lỗ vị thế là tích của lãi/lỗ trên mỗi hợp đồng và số lượng hợp đồng đó đang nắm giữ.

Vào ngày giao dịch cuối cùng, lãi/lỗ của vị thế mở cũng được tính toán theo nguyên tắc tương tự, nhưng với điểm khác biệt là giá thanh toán cuối cùng sẽ được sử dụng thay thế cho giá thành toán hàng ngày. Giá thanh toán cuối cùng được sàn giao dịch nơi niêm yết hợp đồng tương lai hàng hóa xác định theo những phương pháp cụ thể phù hợp căn cứ vào giá giao ngay trên thị trường cơ sở vào thời gian đó. Nếu xem xét yếu tố lãi/lỗ cho một vị thế HĐTLHH trong thời gian từ khi mở vị thế đến khi hợp đồng đáo hạn, lãi/lỗ tổng thể được quyết định bởi chênh lệch giữa giá thanh toán cuối cùng và giá hợp đồng khi mở vị thế đó.

Do vị thế mua và vị thế bán HĐTLHH được thiết lập dựa trên những kỳ vọng trái ngược nhau về chiều hướng vận động giá tài sản cơ sở (giá các loại hàng hóa được lấy làm tài sản cơ sở), biến động giá thực thế sẽ tạo ra lợi nhuận cho một bên và thua lỗ cho bên còn lại của hợp đồng. Chẳng hạn, sự tăng giá hợp đồng tương lai trên thị trường đem lại một khoản lãi cho bên mua, đồng thời tạo ra khoản lỗ cho bên bán hợp đồng đó và ngược lại.

Hợp đồng tương lai hàng hóa được điều chỉnh theo giá thị trường (marked to market) mỗi ngày kể từ sau khi vị thế được mở. Nói cách khác, mỗi khoản lãi/lỗ phát sinh do giá hợp đồng tương lai hàng hóa thay đổi trên thị trường được xác định vào cuối mỗi ngày giao dịch và hạch toán vào tài khoản của nhà đầu tư.

Khi hợp đồng tương lai hàng hóa đáo hạn, hợp đồng sẽ được được dẫn đến quá trình chuyển giao hàng hóa vật chất, hoặc là người nắm giữ vị thế sẽ thực hiện đóng lại hết những vị thế mở của hợp đồng đáo hạn.

Khi còn nắm giữ vị thế khi hợp đồng đến thời gian đáo hạn, sàn giao dịch hàng hóa sẽ gửi thông báo về ý định thực hiện giao nhận hàng hóa đến cho người còn đang nắm giữ vị thế mở.

Ví dụ: Đối với bên mua. Nếu còn nắm giữ vị thế mua, sau khi nhận thông báo, cần phải thông báo lại cho sàn giao dịch về ý định thực hiện việc nhận hàng hóa của mình. Người có ý định nhận hàng hóa cần phải thực hiện nộp tiền ký quỹ giao nhận hàng hóa vật chất để đảm bảo chắc chắn về việc nhận hàng hóa của mình. Khi hàng hóa đã được bên bán gửi về đến kho và được kiểm định về chất lượng, Sàn sẽ thông báo vị trí và thời điểm nhận hàng và thanh toán tiền hàng hóa cho bên bán đối với bên mua.

Thay bằng cách thực hiện giao nhận hàng hóa vật chất tại Sàn giao dịch, những người nắm giữ vị thế vẫn có thể thực hiện việc phòng vệ giá bằng cách tham gia đồng thời kết hợp giữa thị trường hợp đồng tương lai hàng hóa và thị trường hàng hóa cơ sở. Vì giá của của HĐTLHH tại thời điểm đáo hạn cũng chính bằng giá giao ngay của tài sản cơ sở. Vậy nên, người nắm giữ vị thế mở có thể đóng lại vị thế ngay trước ngày đáo hạn, sau đó thực hiện mua bán hàng hóa trên thị trường hàng hóa cơ sở. Lãi/lỗ mà người đó nhận được kể từ khi mở vị thế hợp đồng sẽ bù trừ cho sự biến động giá trên thị trường hàng hóa cơ sở.

Sở giao dịch hàng hóa Việt Nam

Sở giao dịch hàng hóa là một đối tượng pháp lý có quyền xác định và thực hiện nghiêm túc các quy định và quy trình liên quan đến sản phẩm đầu tư và việc giao dịch các hợp đồng hàng hóa được chuẩn hóa trên sàn. Sở giao dịch hay còn đươc hiểu là trung tâm giao dịch hàng hóa vật chất của các giao dịch.

Việc hàng hóa được giao dịch theo hợp đồng tương lai hình thành từ năm 1695 tại Amsterdam. Sau đó 1 thời gian, thị trường trao đổi gạo Dojima đã hình thành nên một dang hợp đồng giống với hợp đồng tương lai hiện đại.

Thông tin vận chuyển nhanh hơn hàng hóa (1840-1865): Theo sự phát triển của các đội tàu vận chuyển và điện báo, thông tin được vận chuyển nhanh hơn sự di chuyển của hàng hóa, rút ngắn được thời gian hơn so với trước đây.

Sự toàn cầu hóa (1865-1940): Sau sự thiết lập và cài đặt cáp truyền tải xuyên Đại Tây Dương, các sàn giao dịch trên thế giới kết nối với nhau tạo thành một thị trường toàn cầu.

Sự sụp đổ sau thế chiến thứ 2 (1940-1970): Sự can thiệp của các chính sách tới quốc gia và lan ra thế giới khiến cho nhiều sàn giao dịch phải ngừng hoạt động và toàn bộ các giao dịch tương lai đều bị ngăn cấm.

Sự hồi sinh của các sàn giao dịch (1970-2000): Sau khi hệ thống Breton Woods (hệ thống thống nhất mức tỷ giá cho các đồng tiền chính và cho phép ngân hàng trung ương can thiệp vào thị trường tiền tệ) sụp đổ, các thị trường giao dịch hàng hóa bắt đầu hoạt động trở lại. Các giao dịch quyền chọn được cải thiện (theo công thức định giá một số sản phẩm tài chính Black-Scholes), các chính sách được điều chỉnh và phù hợp với các giao dịch tương lai; CFTC- Ủy ban Giao dịch Hợp đồng Tương lai Hàng hóa- được thành lập; thị trường dầu thô được thành lập; thỏa thuận hàng hóa quốc tế sụp đổ.

2.1Mục tiêu của sở giao dịch hàng hóa:

Cung cấp các công cụ phái sinh thông qua các hợp đồng tương lai hàng hóa cho nhà đầu tư thực hiện các mục đích khác nhau như bảo hiểm giá, hoặc làm công cụ đầu tư, công cụ quản trị rủi ro.

2.2 Chức năng của sở giao dịch hàng hóa:

Sở giao dịch hàng hóa có chức năng chính sau:

  • Bảo hiểm giá:

 Khi giá được các thành viên sở giao dịch hàng hóa định giá thì giá hàng hóa của người nông dân sản xuất nhỏ, hay từ những nhà sản xuất lớn có chất lượng như nhau sẽ có giá như nhau.

Chúng ta đã nhiều lần chứng kiến bà con nông dân sản xuất ra nông sản bị thương lái ép giá, điệp khúc “được mùa mất giá” nhưng khi giao dịch qua sở/sàn giá sẽ ổn định theo thị trường.

Điều này hết sức có ý nghĩa khi nước ta là nước xuất khẩu nông nghiệp lớn như cà phê Robusta đứng thứ nhất, cao su đứng thứ 2 nhưng giá thất thường. Người nông dân không được lợi khi giá tăng.

Ngoài ra, với những người có nhu cầu hàng hóa, có thể sử dụng công cụ giao dịch tương lai để đảm bảo giá nguyên liệu ổn định. Ví dụ với giá thép, các công ty xây dựng có thể mua thép với giá xác định trong tương lai, biến động giá thị trường sẽ không ảnh hưởng đến giá thành xây dựng của công ty. Như vậy tránh được tình trạng giá nhà bán ra điều chỉnh theo giá thép, thiệt hại cho người mua nhà.

Ngoài ra, sở giao dịch hàng hóa còn mở ra cơ hội đầu tư mới. Nếu có ý định đầu tư thì hiện tại đầu tư vào bất động sản, chứng khoán, vàng.. thì nay có thêm kênh đầu tư hàng hóa. Khi các kênh đầu tư khác gặp khó khăn thì nhà đầu tư có thể lựa chọn kênh đầu tư hàng hóa.

  • Tạo lập Thị trường:

Sở giao dịch hàng hóa đóng vai trò giúp kết nối các “nhà” trong chuỗi giá trị sản phẩm từ người nông dân trồng cà phê, đến nhà chế biến rang xay, các đơn vị xuất khẩu và cuối cùng là người tiêu dùng, kết nối những người có nhu cầu về hàng hóa với nhau để tạo nên một thị trường hàng hóa với các quy chuẩn nhất định, giúp các nhà đầu tư giao dịch HĐTL hàng hóa một cách thuận tiện.

  • Thu thập và phổ biến thông tin thị trường:

Người mua và người bán trên sàn giao dịch hàng hóa  cùng tham gia vào các giao dịch HĐTL sau khi đánh giá xu hướng giá cả và triển vọng tăng hoặc giảm giá của một hàng hóa loại hàng hóa nào đó. Chính vì vậy sở giao dịch hàng hoá là nơi cung cấp các thông tin cần thiết  và các dữ liệu thống kê có liên quan đến tình hình giao dịch HĐTL của các loại hàng hóa, từ đó làm cơ sở giúp các nhà đầu tư đưa ra quyết định của mình.

  • Phân loại hàng hóa:

Hàng hoá được giao dịch trên các sàn giao dịch hàng hóa đã được xếp theo các đặc điểm nhất định được gọi là bản đặc tả hợp đồng. Với việc đưa ra các bản đặc tả hợp đồng của các loại hàng hóa khác nhau, nhà đầu tư sẽ dễ dàng đưa ra đựa lựa chọn rổ hàng hóa nào phù hợp nhu cầu và mục đích đầu tư của mình.

Trong khi thực hiện các chức năng này, sở giao dịch hàng hóa tạo ra nhiều dịch vụ có giá trị cho người sản xuất, người tiêu dùng, thương nhân và những người khác trong cộng đồng.

  • Sở giao dịch hàng hóa  cung cấp một thị trường sẵn sàng và liên tục cho việc mua bán hàng hóa. Nhà sản xuất có thể được độc lập với người trung gian.
  • Bằng cách cung cấp các phương tiện bảo hiểm rủi ro, việc trao đổi hàng hóa làm giảm ảnh hưởng của biến động giá cả.
  • Sở giao dịch hàng hóa cung cấp cho các nhà sản xuất một cơ hội để chuyển rủi ro của họ cho những người xử lí rủi ro chuyên nghiệp.
  • Bằng cách cung cấp sự liên tục trong việc kinh doanh hàng hoá, sở giao dịch hàng hóa cũng tạo cơ hội cho các ngân hàng và các nhà cung cấp tài chính cho vay với hoạt động giao dịch hàng hóa.
  • Sở giao dịch hàng hoá cung cấp cơ sở vật chất và cơ hội để thiết lập mặt bằng giá  và do đó làm cân bằng mức giá hàng hóa tại các trung tâm giao dịch khác nhau.

Sở giao dịch hàng hóa trên thế giới được phân ra làm ba bộ phận chính: (1) Sàn giao dịch; (2) Trung tâm thanh toán bù trừ; và (3) Trung tâm kiểm định và giao nhận hàng hóa.

(1)Sàn giao dịch  là thị trường tập trung trong việc mua bán các sản phẩm hợp đồng tương lai hàng hóa. Sàn giao dịch là nơi tập hợp những người bán và người mua những hợp đồng. Nó cung cấp một địa điểm tập trung để các nhà đầu tư có thể thực hiện trao đổi hợp đồng tương lai hàng hóa. Sàn giao dịch cũng đưa ra những quy định về giao dịch, cung cấp thông tin về sản phẩm, thông tin giá cả đối với những thành viên kinh doanh và các nhà đầu tư.

(2) Trung tâm thanh toán bù trừ là tổ chức thực hiện chức năng cung cấp dịch vụ thanh toán và bù trừ trong hoạt động mua bán hợp đồng tương lai hàng hoá thông qua Sở Giao dịch hàng hóa.

(3) Trung tâm kiểm định và giao nhận hàng hóa là một bộ phận của Sở giao dịch hàng hóa. Vai trò của Trung tâm là thực hiện quá trình cuối cùng, kết thúc một hợp đồng tương lai hàng hóa đối với những vị thế còn đang trong trạng thái mở. Trung tâm thực hiện chức năng lưu giữ, bảo quản và giao nhận hàng hoá cho các bên tham gia vào hoạt động mua bán hàng hoá qua sở giao dịch hàng hóa.

Các bài học nổi bật

Khái quát về mua bán hàng hóa qua Sở Giao dịch Hàng hóa Việt Nam

Sự ra đời hoạt động mua bán hàng hóa tương lại là một tất yếu khách quan trong quá trình phát triển kinh tế thị trường. Tại Việt Nam, lần đầu tiên khái niệm mua bán hàng hóa tương lai được đề cập trong Luật thương mại 2005, với tên gọi là mua bán hàng hóa qua sở giao dịch. Các doanh nghiệp, các nhà Đầu tư đã tham gia thị trường này nhằm bảo trợ giá, phòng rủi ro cho nguyên liệu sản xuất, cho hàng hóa mua và bán đã ít nhiều biết đến vai trò của Sở giao dịch hàng hóa, và mong muốn, chức năng liên thông với các Sở giao dịch hàng hóa Thế giới để có một tổ chức chính thức và chuyên nghiệp cho các Thành viên kinh doanh và các Nhà đầu tư.  

1. Khái niệm mua bán hàng hóa qua sở giao dịch:

Khoản 1 Điều 63 Luật Thương mại 2005 quy định: "Mua bán hàng hóa qua Sở Giao dịch Hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó các bên thỏa thuận thực hiện việc mua bán một lượng nhất định của một loại hàng hóa nhất định qua Sở Giao dịch Hàng hoá theo những tiêu chuẩn của Sở Giao dịch Hàng hoá với giá được thỏa thuận tại thời điểm giao kết hợp đồng và thời gian giao hàng được xác định tại một thời điểm trong tương lai".

Từ quy định này cho thấy, hoạt động mua bán hàng hóa qua sở giao dịch theo quy định của Luật Thương mại là một bộ phận của hoạt động mua bán hàng hóa tương lai. 

 2. Sở giao dịch hàng hóa tương lai:

Sở Giao dịch Hàng hóa (Commodity Exchange ) là chủ thể trung tâm của hoạt động mua bán hàng hóa tương lại. Theo Điều 67 Luật Thương mại 2005, Sở Giao dịch Hàng hoá có các chức năng sau đây:

+Cung cấp các điều kiện vật chất - kỹ thuật cần thiết để giao dịch mua bán hàng hoá;
+Điều hành các hoạt động giao dịch;
+Niêm yết các mức giá cụ thể hình thành trên thị trường giao dịch tại từng thời điểm.

Các vấn đề cụ thể về điều kiện thành lập, quyền hạn, trách nhiệm của Sở Giao dịch Hàng hóa tương lại sẽ được quy định trong Nghị định 158/2006/NĐ-CP. 

3. Một số hành vi bị cấm trong mua bán hàng hóa qua sở giao dịch:

Để đảm bảo hiệu quả của hoạt động mua bán hàng hóa qua Sở Giao dịch Hàng hóa, Điều 70 và Điều 71 Luật Thương mại 2005 quy định một số hành vi bị cấm sau:

+ Nhân viên của Sở Giao dịch Hàng hoá không được phép môi giới, mua bán hàng hoá qua Sở Giao dịch Hàng hoá.

+ Các bên liên quan đến hoạt động mua bán hàng hoá qua Sở Giao dịch Hàng hoá không được thực hiện các hành vi sau đây:

-  Gian lận, lừa dối về khối lượng hàng hóa trong các hợp đồng kỳ hạn hoặc hợp đồng quyền chọn được giao dịch hoặc có thể được giao dịch và gian lận, lừa dối về giá thực tế của loại hàng hoá trong các hợp đồng kỳ hạn hoặc hợp đồng quyền chọn;
-  Đưa tin sai lệch về các giao dịch, thị trường hoặc giá hàng hoá mua bán qua Sở Giao dịch Hàng hóa;
-  Dùng các biện pháp bất hợp pháp để gây rối loạn thị trường hàng hóa tại Sở Giao dịch Hàng hoá;
-  Các hành vi bị cấm khác theo quy định của pháp luật.

+ Đối với các thương nhân hoạt động môi giới hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa, ngoài việc không được thực hiện các hành vi trên, còn bị cấm thực hiện các hành vi sau:

-  Lôi kéo khách hàng ký kết hợp đồng bằng cách hứa bồi thường toàn bộ hoặc một phần thiệt hại phát sinh hoặc bảo đảm lợi nhuận cho khách hàng;

-  Chào hàng hoặc môi giới mà không có hợp đồng với khách hàng.

-  Sử dụng giá giả tạo hoặc các biện pháp gian lận khác khi môi giới cho khách hàng.

-  Từ chối hoặc tiến hành chậm trễ một cách bất hợp lý việc môi giới hợp đồng theo các nội dung đã thoả thuận với khách hàng.
 

4. Văn bản pháp luật áp dụng:

Luật Thương mại 2005

Nghị định 158/2006/NĐ-CP

Mua bán hàng hóa qua Sở Giao dịch Hàng hóa theo quy định của pháp luật

1. Mua bán hàng hóa qua Sở Giao dịch Hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó các bên thỏa thuận thực hiện việc mua bán một lượng nhất định của một loại hàng hóa nhất định qua Sở Giao dịch Hàng hoá theo những tiêu chuẩn của Sở Giao dịch Hàng hoá với giá được thỏa thuận tại thời điểm giao kết hợp đồng và thời gian giao hàng được xác định tại một thời điểm trong tương lai.

2. Các loại Hợp đồng mua bán hàng hóa qua Sở Giao dịch Hàng hoá: Hợp đồng mua bán hàng hóa qua Sở Giao dịch Hàng hoá bao gồm: hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng quyền chọn, hợp đồng tương lai, hợp đồng hoán đổi, hợp đồng giao ngay.

2.1. Hợp đồng kỳ hạn là thỏa thuận, theo đó bên bán cam kết giao và bên mua cam kết nhận hàng hoá tại một thời điểm trong tương lai theo hợp đồng. Hay nói cách khác là loại hợp đồng mà giá cả gọi là giá kỳ hạn, nghĩa là việc giao hàng và thanh toán sẽ là một ngày nào đó được chỉ ra trong tương lai, kể từ khi bản hợp đồng được ký kết (1 tuần, 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng,…).

Giá kỳ hạn được tính dựa trên mức giá giao ngay và một số thông số khác phỏng đoán về mức tăng giảm của giá cả hàng hóa này tính cho đến thời điểm hàng sẽ thực sự được giao nhận. Với phương thức giao dịch này, người mua hàng phải có đặt cọc (ký qũy) hoặc thế chấp một khoản tài sản nhất định để bảo đảm cho việc thực hiện hợp đồng. Tiền ký qũy trong phạm vi tối thiểu theo thỏa thuận và không được hưởng lãi nhưng người mua có thể được hưởng phần lợi tức (trong trường hợp thế chấp tài sản tài chính) phát sinh từ tài sản thế chấp. Với tư cách là công cụ phòng chống rủi ro, HĐKH được sử dụng để cố định khoản thu nhập hay chi trả theo một mức giá cố định đã biết trước, bất chấp sự biến động của giá trên thị trường.

2.2. Hợp đồng về quyền chọn mua hoặc quyền chọn bán là thỏa thuận, theo đó bên mua quyền có quyền được mua hoặc được bán một hàng hóa xác định với mức giá định trước (gọi là giá giao kết) và phải trả một khoản tiền nhất định để mua quyền này (gọi là tiền mua quyền). Bên mua quyền có quyền chọn thực hiện hoặc không thực hiện việc mua hoặc bán hàng hóa đó. Ngừời bán quyền chọn có trách nhiệm phải thực hiện nghĩa vụ của mình trong hợp đồng nếu ngừời mua quyền chọn quyết định thực hiện quyền chọn của mình. Hợp đồng Quyền chọn – Định nghĩa • Quyền chọn là các hợp đồng “phái sinh” – phái sinh ra từ giá hàng hóa quốc tế hiện tại. • Đây là một hợp đồng tài chính giữa hai bên cho phép bên mua Quyền được mua hợp đồng tương lai trong một khoảng thời gian xác định theo mức giá xác định. • Quyền chọn có Phí trả trước (giống như phí hợp đồng bảo hiểm) • Quyền chọn là một hợp đồng “giấy” cho bạn lựa chọn mua hoặc bán vào một ngày tƣơng lai, nhưng không ràng buộc bạn phải làm. • Quyền chọn là các hợp đồng đƣợc chuẩn hóa và có thể chuyển nhƣợng đƣợc, trong đó quy định: – Giá – Số lƣợng – Ngày giao hàng – Ngày thanh toán Hedging với hợp đồng Quyền chọn.

2.3. Hợp đồng tương lai (sau đây viết tắt là HĐTL) là hợp đồng được tiêu chuẩn hóa, chỉ có giá là được thỏa thuận, mỗi hợp đồng đều được quy định một số lượng hàng hóa nhất định (gọi là contract size), ngày giao hàng và nơi giao hàng được ấn định cụ thể trên thị trường, không có sự đàm phán giữa hai bên tham gia vào hợp đồng.

là loại hợp đồng có sẵn những tiêu chuẩn về số lượng, phẩm cấp hàng, chủng loại mặt hàng, điều kiện vận chuyển và giao nhận hàng,… tất cả đều được sở giao dịch tiêu chuẩn hóa, vấn đề duy nhất phải thỏa thuận là giá cả.

Giá cả sau khi được quyết định tại phiên giao dịch, gọi là giá giao sau. Đó là mức giá được tính toán gần giống như giá giao trong tương lai. Tuy nhiên, do tính chất đặc thù của loại hợp đồng này, hai bên mua bán không hề có thêm bất kỳ thỏa thuận nào khác trừ giá cả. Nên hàng hóa mua bán theo loại hợp đồng thường được qui định giao nhận hàng ở một vài thời điểm nhất định trong năm mà thôi, khi đó giá giao sau sẽ là giá giao kỳ hạn với thời điểm kỳ hạn chính là mốc đã định sẵn ở trên.

Thể thức này mới được sử dụng phổ biến từ những năm 60 – 70 thế kỷ XIX trên thị trường hàng hóa và những năm 70 – 80 của thế kỷ XX trên thị trường tiền tệ. Từ năm 2001, hầu hết các sàn giao dịch điện tử quốc tế đều thống nhất các qui chuẩn chung của hợp đồng này, tuỳ theo hàng hóa cơ sở mua bán (gạo, café, caosu, … vàng, bạc, platin,… USD, …) mà sẽ có những đặc tả chi tiết hàng hóa riêng. Đây là công cụ chính cung cấp cho những nhà đầu cơ (speculator) một phương tiện kinh doanh và những người ngại rủi ro (hedger) một phương tiện phòng chống rủi ro.

2.4. Hợp đồng hoán đổi hàng hóa (commodity swap): là một thỏa thuận mà theo đó giá thả nổi của hàng hóa (giá giao ngay) được trao đổi lấy giá cố định trong một khoản thời gian xác định.

Người sử dụng hàng hóa muốn đảm bảo giá ở mức tối đa và đồng ý trả cho tổ chức tài chính một mức giá cố định. Đổi lại người sử dụng sẽ nhận được những khoản thanh toán dựa trên giá cả thị trường cho những hàng hoá liên quan. Ngược lại, người sản xuất muốn cố định thu nhập và đồng ý trả giá thị trường cho tổ chức tài chính, đổi lại cho việc nhận những khoản thanh toán cố định cho hàng hoá.

2.5. Hợp đồng giao ngay (spot contract ): là loại hợp đồng mà giá cả gọi là giá giao ngay (giá cả của hàng hóa được mua bán trên thị trường ngay tại thời điểm này), nghĩa là việc giao hàng và thanh toán chỉ có thể diễn ra trong vòng 1 hay 2 ngày (làm việc) kể từ khi bản hợp đồng được ký kết.

Nghiệp vụ này thực hiện trên cơ sở giá giao ngay, tức là giá được xác định và có giá trị tại thời điểm giao dịch. Chênh lệch giá mua và giá bán của một hàng hóa dùng để bù đắp chi phí giao dịch và đạt một khoản lợi nhuận hợp lý, nên nó cao hay thấp tùy thuộc vào phạm vi giao dịch hẹp hay rộng và mức độ biến động giá trị của hàng hóa đó trên thị trường. Để có thể so sánh với các loại chi phí giao dịch khác, chênh lệch giá bán và giá mua thường được xác định theo tỷ lệ phần trăm qua công thức sau:

Chênh lệch (%) = (giá bán – giá mua) * 100 / giá bán

Các hành vi bị cấm trong hoạt động mua bán hàng hoá qua Sở Giao dịch Hàng hóa

1. Nhân viên của Sở Giao dịch Hàng hoá không được phép môi giới, mua bán hàng hoá qua Sở

2. Các bên liên quan đến hoạt động mua bán hàng hoá qua Sở Giao dịch Hàng hoá không được thực hiện các hành vi sau đây:

a) Gian lận, lừa dối về khối lượng hàng hóa trong các hợp đồng kỳ hạn hoặc hợp đồng quyền chọn được giao dịch hoặc có thể được giao dịch và gian lận, lừa dối về giá thực tế của loại hàng hoá trong các hợp đồng kỳ hạn hoặc hợp đồng quyền chọn;

b) Đưa tin sai lệch về các giao dịch, thị trường hoặc giá hàng hoá mua bán qua Sở Giao dịch Hàng hóa;

c) Dùng các biện pháp bất hợp pháp để gây rối loạn thị trường hàng hóa tại Sở Giao dịch Hàng hoá;

d) Các hành vi bị cấm khác theo quy định của pháp luật.

Quan niệm về thị trường hàng hóa giao sau và mua bán hàng hóa qua Sở Giao dịch Hàng hóa

1. Sơ lược về mua bán hàng hoá giao sau

Mua bán hàng hoá giao sau được hình thành và phát triển từ hoạt động mua bán hàng hoá nông sản của các nước có nền nông nghiệp phát triển. Xuất phát từ đặc tính của sản xuất nông nghiệp là tính thời vụ, tình trạng cung vượt quá cầu khi thu hoạch, "được mùa lại rớt giá" làm cho người sản xuất nông sản gặp nhiều khó khăn, còn đối với người sử dụng nông sản làm nguyên liệu cho hoạt động sản xuất của mình (người mua) thì việc không ổn định nguyên liệu cũng là rủi ro mà họ thường gặp. Đó là lí do ban đầu xuất hiện hình thức mua bán hàng hoá giao sau. Về sau khi các nhà đầu tư nhìn nhận tham gia vào việc mua bán hàng hoá giao sau có thể thu được những khoản lợi nhuận nhất định, mặc dù không có nhu cầu đối với hàng hoá nhưng họ vẫn tham gia vào quá trình này, điều đó tạo điều kiện cho mua bán hàng hoá giao sau phát triển ở hình thức cao hơn.

Mua bán hàng hoá giao sau là việc giao dịch, kí kết các hợp đồng về hàng hoá mà việc giao hàng và nhận tiền diễn ra vào thời gian ấn định trong tương lai. Mua bán hàng hoá giao sau gồm: giao dịch triển hạn, giao dịch kì hạn, giao dịch kì hạn tự chọn.

Giao dịch hàng hoá triển hạn - giao dịch mà người bán và người mua thoả thuận, cam kết với nhau về việc mua bán, giao hàng và nhận tiền trong tương lai theo hợp đồng triển hạn với các quy định rất chặt chẽ về điều kiện đối với phẩm cấp, giá, số lượng hàng hoá được các bên xác định trước.

Giao dịch kì hạn - hoạt động mua bán hàng hoá thông qua việc kí kết hợp đồng giữa người mua hoặc người bán với sở giao dịch hàng hoá.

Giao dịch quyền chọn - hợp đồng giữa người mua và người bán, trong đó người mua mua của người bán không phải là một hàng hoá (hiện vật) mà là quyền mua hoặc quyền bán hàng hoá với mức giá định trước. Người mua sau đó có quyền chọn hoặc không thực hiện việc mua hoặc bán hàng hoá đó nếu thấy giá cả của hàng hoá đó bất lợi cho mình.

Các hình thức giao dịch này được hình thành và phát triển theo hướng hạn chế tối đa những rủi ro cho người mua cũng như người bán trong kinh doanh nói chung và trong mua bán hàng hoá nói riêng.

Ở Việt Nam, với tư cách là giao dịch mang tính kinh doanh, mua bán hàng hoá giao sau đang ở trong tình trạng "thai nghén", có chăng trên thực tế chỉ mới giao dịch dưới hình thức giao dịch hàng hoá triển hạn.

2. Quan niệm về thị trường hàng hoá giao sau

Thị trường hàng hoá giao sau là thị trường giao dịch, kí kết các hợp đồng mua bán hàng hoá. Việc giao hàng và nhận tiền được diễn ra vào ngày ấn định trong tương lai. Như vậy, thị trường hàng hoá giao sau là thị trường mà ở đó diễn ra các hoạt động mua bán hàng hoá giao sau, tức là loại hình thị trường mà ở đó người ta buôn bán, trao đổi với nhau không phải là các hàng hoá, sản phẩm trực tiếp giao ngay mà thông qua các hợp đồng cam kết mua bán, còn việc giao hàng và nhận tiền được thực hiện trong tương lai. Số lượng, giá cả, phẩm cấp, hình thức giao nhận được cam kết theo các điều khoản cụ thể ghi trong hợp đồng.

Thị trường mua bán hàng hoá giao sau có những tính chất chung của thị trường mua bán hàng hoá, bên cạnh đó thị trường mua bán hàng hoá giao sau cũng có những tính chất riêng của nó. Cụ thể:

Thứ nhất, mục đích tham gia quan hệ thị trường hàng hoá giao sau của các chủ thể không giống nhau. Có những chủ thể tham gia với mục đích hạn chế rủi ro trong kinh doanh của mình, chủ thể khác tham gia với mục đích đầu tư để kiếm lời và cũng có những chủ thể tham gia để thực hiện dịch vụ nào đó.

Thứ hai, không phải mọi hàng hoá đều được mua bán trên thị trường này mà chỉ có những hàng hoá với những đặc thù mới có thể đưa ra trao đổi (chủ yếu là nông sản). Hàng hoá trao đổi ở đây không chỉ là hàng hoá tồn tại dưới hình thức hiện vật mà còn có những hàng hoá tồn tại dưới hình thức khác (quyền tài sản).

Thứ ba, đặc trưng của thị trường hàng hoá giao sau là phải có hợp đồng, đó là hợp đồng triển hạn, hợp đồng kì hạn hoặc hợp đồng quyền chọn và hợp đồng tương lai. Hợp đồng này phải là thoả thuận mang tính pháp lí, là cơ sở pháp lí ràng buộc người bán với người mua trong hợp đồng. Ngoài ra, cách thức thực hiện các giao dịch trên thị trường mua bán hàng hoá giao sau cùng có những đặc thù của nó. Cụ thể, khi giao kết hợp đồng các bên chủ yếu tập trung thoả thuận về giá cả và kì hạn, còn các điều khoản khác thường đã được chuẩn hoá; các bên trao đổi với nhau không phải là hàng hoá, sản phẩm trực tiếp giao ngay mà thông qua các hợp đồng cam kết mua bán, còn việc giao hàng và nhận tiền được thực hiện trong tương lai.

Thị trường triển hạn là thị trường mà ở đó người ta mua bán các hợp đồng hàng đến - loại hợp đồng quy định việc giao hàng nông sản vào thời điểm cụ thể trong tương lai với số lượng, phẩm cấp, giá…đã được xác định trước. Thị trường triển hạn tồn tại và không ngừng phát triển một cách hoàn thiện từ việc tiêu chuẩn hoá các cam kết, các hợp đồng đến việc hình thành cơ chế hợp lí để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ của các bên trong hợpđồng, từ việc giao dịch một cách tự phát, không tập trung đến việc hình thành các địa điểm giao dịch có tổ chức.

Những yêu cầu này được đáp ứng bởi một thị trường có tổ chức chặt chẽ là thị trường kì hạn. Thị trường kì hạn chỉ cho phép giao dịch các hợp đồng triển hạn một cách có tổ chức và theo các điều khoản mẫu, nghĩa là các hợp đồng được tiêu chuẩn hoá ở mức cao. Thị trường triển hạn là tiền thân của thị trường kì bạn.

Thị trường kì hạn là giai đoạn phát triển cao hơn của thị trường triển hạn. Sự hình thành và phát triển của thị trường kì hạn đã tiếp thu được tất cả những ưu việt đồng thời khắc phục được tất cả những hạn chế của thị trường triển hạn. Điều này được thể hiện ở việc tiêu chuẩn hoá các hợp đồng triển hạn để tạo thành hợp đồng kì hạn với các điều khoản cụ thể và chặt chẽ hơn. Hơn nữa, thị trường kì hạn là thị trường có tổ chức cao nên giảm bớt rủi ro và tăng tính thực thi hơn đối với các hợp đồng. Trong thị trường kì hạn, tất cả các giao dịch được thực hiện tại một nơi quy định (Sở Giao dịch Hàng hoá). Sở giao dịch hàng hoá kì hạn đóng vai trò là đơn vị trung gian chắp nối các nhu cầu mua và bán trong thị trường triển hạn một cách có tổ chức. Tại sở giao dịch, người giao dịch không chỉ mua bán các hợp đồng lần đầu tiên được mời chào mà còn mua đi, bán lại các hợp đồng đã được bán, mua. Toàn bộ các loại hình giao dịch mua đi bán lại này tạo nên khung cảnh nhộn nhịp và được gọi là giao dịch thứ cấp. Các giao dịch thứ cấp tỏ ra khá hấp dẫn, chiếm phần lớn trong các phiên giao dịch tại sở, làm cho số hợp đồng kì hạn được trao đổi không ngừng tăng lên qua các năm tại Sở Giao dịch Hàng hóa. Sau khi hợp đồng được kí kết, thoả thuận, mỗi bên tham gia của hợp đồng có nghĩa vụ chuẩn bị thực hiện nội dung cam kết của hợp đồng vào một ngày trong tương lai. Chủng loại hàng hoá được mua bán trên thị trường này không chỉ là nông sản mà còn là các nguyên liệu dành cho các ngành công nghiệp chăn nuôi, công nghiệp khác. Người tham gia vào thị trường này không chỉ là người sản xuất hàng hoá nông sản mà còn bao gồm các tổ chức tài chính lớn như ngân hàng, bảo hiểm, công ty đầu tư, quỹ tài chính ...

Thị trường tự chọn là thị trường diễn ra các giao dịch hợp đồng tự chọn. Thị trường tự chọn xuất hiện nhằm giải quyết một vấn đề thường xảy ra trong thực tế, đó là những biến động của giá thị trường gây thiệt hại cho người bán hoặc người mua đã sở hữu hợp đồng. Để khắc phục thiệt hại, người bán hoặc người mua tham gia vào thị trường tự chọn, nơi diễn ra các giao dịch quyền chọn.

Dựa vào tính chất tổ chức của hoạt động mua bán hàng hoá giao sau, thị trường hàng hoá giao sau có thể được chia ra: Thị trường ngoài sở giao dịch (OTC) và thị trường có tố chức (qua sở giao dịch).

Thị trường có tổ chức: Vì thị trường hàng hoá giao sau là thị trường mua bán và kí kết các hợp đồng cho nên để có thể duy trì sự ổn định của thị trường thì việc mua bán, kí kết các hợp đồng phải được diễn ra ở những nơi quy định của thị trường là các Sở Giao dịch Hàng hoá giao sau. Sở Giao dịch Hàng hoá giao sau là các trung tâm giao dịch của thị trường hàng hoá giao sau, gồm sở giao dịch hàng hoá kì hạn, sở giao dịch hàng hoá tự chọn..Các Sở Giao dịch Hàng hoá giao sau trên thực tế điều hành hoặc các giao dịch kì hạn hoặc các giao dịch quyền chọn hoặc cả hai. Tại Sở giao dịch, các hợp đồng kì hạn và quyền chọn được thiết lập một cách có tổ chức và theo các điều khoản mẫu, nghĩa là các hợp đồng được tiêu chuẩn hoá ớ mức cao.

Tuy nhiên, để có Sở Giao dịch Hàng hoá cần thiết phải đáp ứng các yêu cầu như:

1) Phải có số lượng lớn các bên tham gia thị trường nhưng không có bên nào có khả năng ấn định giá;

2) Các hợp đồng phải được chuẩn hoá, chuẩn hoá đối với chất lượng và số lượng, thời hạn và các điều khoản khác;

3) Phải có sự quản lý nghiêm ngặt về chất lượng hàng hoá;

 4) Phải có thị trường giao ngay được tổ chức tốt với việc phân phát một cách nhanh chóng và chính xác các thông tin về giá cả, về khối lượng hàng hoá,

5) Phải có phòng thanh toán bù trừ có hiệu quả và có năng lực để quản lí rủi ro với đối tác và thực hiện việc thanh toán.

Thị trường ngoài sở giao dịch: Cùng với các giao dịch được tiến hành tại sở còn có các giao dịch khác ngoài sở mà chủ yếu là những giao dịch triển hạn. Thị trường hàng hoá giao sau ngoài sở giao dịch gồm có thị trường tự chọn ngoài sở và thị trường triển hạn ngoài sở. Ưu điểm của thị trường này là tính linh động, dễ dàng điều chỉnh lợi ích theo yêu cầu cụ thể của các bên trong họp đồng. Thị trường này là thị trường tư nhân, trong đó không có công chúng hoặc nhà đầu tư khác, kể cả những người cạnh tranh và mọi hoạt động giao dịch không bị ràng buộc vào các quy định pháp luật, mặc dù ở đây cũng tồn tại các quy tắc mang tính lương thiện và lịch sự phổ biến trong kinh doanh. Tuy nhiên, thị trường này không thể tồn tại nếu không có thị trường giao dịch có tổ chức – các sở giao dịch, sự liên thông giữa các Sở trong nước và quốc tế. Sở giao dịch cho phép các nhà kinh doanh trên thị trường này có thể tiến hành các giao dịch bù trừ với các vị thế ngoài sở giao dịch nhằm hạn chế những rủi ro có thể xảy ra.

Thị trường hàng hóa giao sau là loại thị trường đặc biệt, có lịch sử phát triển lâu đời và không ngừng phát triển, hoàn thiện, từ việc tiêu chuẩn hóa các cam kết, các hợp đồng đến việc tạo thành cơ chế hợp lý để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng, từ việc giao dịch một cách tự phát, không tập trung đến hình thành các địa điểm giao dịch có tổ chức. Sở Giao dịch Hàng hóa tương lai đã ngày càng phát huy vai trò quan trọng của mình trong việc giảm thiểu các rủi ro về giá và là công cụ hữu hiệu thúc đẩy quá trình sản xuất, lưu thông của nền kinh tế.

3. Quan niệm về mua bán hàng hóa qua Sở Giao dịch Hàng hóa

3.1. Khái niệm mua bán hàng hóa qua Sở Giao dịch Hàng hóa

Thị trường hàng hóa giao sau bao gồm các hình thức giao dịch khác nhau như thị trường triển hạn, thị trường kì hạn và thị trường tự chọn. Thị trường kỳ hạn hàng hóa là sự phát triển ở trình độ cao của thị trường triển hạn. Sự phát triển đó thể hiện ở chỗ thị trường kì hạn là thị trường có tổ chức chặt chẽ. Các giao dịch hợp đồng trong thị trường kì hạn chỉ được thực hiện tại địa điểm duy nhất là Sở giao dịch hàng hóa. Hình thức giao dịch trong thị trường kì hạn thông qua sở giao dịch này được gọi là hình thức mua bán qua Sở Giao dịch Hàng hóa.

Mua bán hàng hoá qua Sở Giao dịch Hàng hoá là giao dịch mua bán hàng hoá, theo đó các bên thỏa thuận thực hiện việc mua bán lượng nhất định của loại hàng hoá nhất định qua sở giao dịch hàng hoá theo những tiêu chuẩn của sở giao dịch hàng hoá với giá được thoả thuận tại thời điểm giao kết hợp đồng và thời gian giao hàng được xác định tại một thời điểm trong tương lai .

Từ khái niệm trên có thể thấy việc mua bán hàng hoá qua sở giao dịch hàng hoá có những dấu hiệu riêng biệt. Đó là:

Thứ nhất, chủ thể hoạt động mua bán hàng hoá qua sở giao dịch hàng hoá gồm các thương nhân là nhà giao dịch, nhà môi giới và khách hàng.

Nhà giao dịch là những thành viên tham gia vào hoạt động mua bán hàng hoá kì hạn, quyền chọn cho chính bản thân họ, giao dịch từ chính tài khoản của họ. Các nhà giao dịch tham gia vào hoạt động mua bán hàng hoá qua sở giao dịch hàng hoá với mục đích đầu cơ hoặc tự bảo hiếm rủi ro cho mình và thường là các nhà kinh doanh hay nhà sản xuất lớn, có sự am hiểu về mua bán kì hạn, quyền chọn.

Nhà môi giới là thương nhân hoạt động độc lập hoặc đại diện cho công ti môi giới lớn, thực hiện các giao dịch cho những người không phải là thành viên của sở giao dịch để kiếm tiền bằng cách thu một khoản phí gọi là phí hoa hồng của người mua hoặc bán các hợp đồng kì hạn hoặc quyền chọn khi họ tham gia và mua bán hàng hoá qua sở giao dịch hàng hoá.

Khách hàng là người bán hoặc người mua tham gia và giao dịch hàng hoá qua sở giao dịch hàng hoá thông qua nhà môi giới. Khách hàng ủy thác cho nhà môi giới thực hiện việc mua bán tại sở giao dịch trên cơ sở thiết lập hợp đồng môi giới, sau đó người môi giới sẽ bảo đảm với sở giao dịch về việc thực hiện hợp đồng được kí cho khách hàng bằng việc chính nhà môi giới là người kí hợp đồng. Bên cạnh ba chủ thể chính này, trong mua bán hàng hoá thông qua sở giao dịch hàng hoá còn có một số chú thể khác, đó là các nhà tư vấn thực hiện việc phân tích thị trường, lập báo cáo, cho ý kiến tư vấn hoặc đưa ra các đề xuất về việc mua bán hợp đồng kỉ hạn cho một người nào đó và thu phí; các đại lí giao dịch được cấp phép làm đại lí cho công ti môi giới hàng hoá giao sau trong việc môi giới các lệnh mua bán từ khách hàng...

 Thứ hai, việc mua bán hàng hoá được thực hiện tại sở giao dịch hàng hoá. Sở giao dịch hàng hoá là tổ chức được thành lập để cung cấp các tiện ích cho việc tiến hành các giao dịch kì hạn, quyền chọn và một số giao dịch giao sau khác. Về mô hình, sở giao dịch hàng hoá thường được tổ chức dưới hình thức doanh nghiệp ở các nước phát triển và việc thành lập các sở giao dịch ở các nước này hoàn toàn theo nhu cầu thị trường. Trong khi đó, ở một số nước đang phát triển (Trung Quốc, Thái Lan), sở giao dịch thường là tổ chức có tư cách pháp nhân được quản lí, điều hành bởi nhà nước.

Mua bán hàng hoá qua sở giao dịch, các chủ thể được sở giao dịch cung cấp nhiều tiện ích như: l) Cung cấp và duy trì nơi mua bán cụ thể (thường gọi là sàn giao dịch), tại đây hợp đồng kì hạn và quyền chọn được các thành viên của sở mua và bán; 2) Đề ra các quy tắc, quy chế để điều hành hoạt động kinh doanh hàng hoá giao sau diễn ra tại sở và giám sát, thực thi các quy tắc, quy chế đó; 3) Thúc đẩy hoạt động mua bán kì hạn và quyền chọn của các thành viên. Bản thân sở không tham gia vào việc mua bán kì hạn mà chỉ cung cấp những tiện nghi cho các bên tham gia vào hoạt động mua bán hàng hoá giao sau tại sở.

Thứ ba, hàng hoá trong mua bán hàng hoá qua sở giao dịch hàng hoá mang những đặc điểm riêng biệt. Đó là những hàng hoá tồn tại sự biến động lớn về giá trong thị trường giao ngay. Sự tiềm ẩn nguy cơ biến động lớn về giá của các loại hàng hoá này đã buộc các nhà sản xuất và nhà chế biến phải đối mặt với nguy cơ thua lỗ nếu giá biến động theo hướng nào đó. Vì vậy, họ đưa các loại hàng hoá này tham gia vào thị trường kì hạn và thị trường quyền chọn để tự bảo hiểm, tức là chuyển rủi ro về giá sang các nhà nắm rủi ro chuyên nghiệp và cho phép có cơ chế giá phục hồi. Hàng hoá đưa vào mua bán qua sở giao dịch còn là loại hàng hoá thu hút được khối lượng lớn các bên tham gia và không có bên nào chi phối được thị trường. Điều này được hiểu là nếu giá cả của loại hàng hoá đó chỉ do một người ấn định thì không còn sự biến động tự phát về giá, do đó cũng không còn nhu cầu về thị trường các hợp đồng kì hạn hoặc quyền chọn.

Thứ tư, hoạt động mua bán hàng hoá qua sở giao dịch hàng hoá thông thường được thực hiện bằng hai loại hợp đồng cơ bản: hợp đồng kì hạn và hợp đồng quyền chọn.

Thứ năm, hoạt động mua bán hàng hoá thông qua sở giao dịch hàng hoá mang tính đầu cơ nhằm mục đích sinh lợi, cho phép các bên tự phòng ngừa rủi ro bằng những hợp đồng kì hạn.

Thứ sáu, hoạt động mua bán hàng hoá qua sở giao dịch hàng hoá phản ánh biến động của quan hệ cung cầu, sự thay đổi giá cả trên thị trường. Các thông tin từ hoạt động này tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà kinh doanh tham khảo khi giao dịch, kí kết hợp đồng. Nó phản ảnh được sự biến động của nền kinh tế và góp phần ổn định giá cả, giúp các nhà sản xuất kinh doanh khi ra các quyết định đầu tư dưới hình thức giao kết các hợp đồng kì hạn.

3.2. Khái niệm mua bán hàng hoá thông qua Sở Giao dịch Hàng hoá theo pháp luật thương mại Việt Nam

Giống như luật về mua bán hàng hoá tương lai của các nước, Luật Thương mại năm 2005 cũng đưa ra khái niệm về mua bán hàng hoá qua sở giao dịch hàng hoá. Khoản 1 Điều 63 Luật thương mại năm 2005 quy đinh: "Mua bán hàng hoá qua Sở Giao dịch Hàng hoá là hoạt động thương mại theo đó các bên thoả thuận thực hiện việc mua bán một lượng hàng hoá nhất định của một loại hàng hoá nhất định qua sở giao dịch hàng hoá theo những tiêu chuẩn nhất định của sở giao dịch hàng hoá với giá được thoả thuận tại thời điểm giao kết hợp đồng và thời gian giao hàng được xác đinh tại một thời điểm trong tương lai".

Có thể thấy, khái niệm mua bán hàng hoá qua sở giao dịch hàng hoá của luật thương mại năm 2005 đã thể hiện đầy đủ bản chất của hoạt động mua bán hàng hoá qua sở giao dịch hàng hoá. Theo khái niệm này, mua bán hàng hoá qua sở giao dịch hàng hoá có những đặc điểm sau:

Thứ nhất, mua bán hàng hoá qua sở giao dịch hàng hoá là hoạt động thương mại. Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm sinh lợi khác. Như vậy, mua bán hàng hoá qua sở giao dịch hàng hoá là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, hay nói cách khác là hoạt động kinh doanh nhằm tìm kiếm lợi nhuận của các chủ thể khi tham gia vào quan hệ thương mại này.

Thứ hai, thoả thuận mua bán một lượng hàng hoá nhất định của các bên phải được thực hiện thông qua chủ thể thứ ba là sở giao dịch hàng hoá và phải tuân thủ các điều kiện cụ thể do sở giao dịch đặt ra. Đây là điểm khác biệt cơ bản của hoạt động mua bán hàng hoá thông qua sở giao dịch hàng hoá với hoạt động mua bán hàng hoá thông thường và hoạt động mua bán hàng hoá giao sau trên thị trường ngoài sở. Trong hoạt động mua bán hàng hoá thông thường, các bên trực tiếp thoả thuận với nhau về giá cả, số lượng, phẩm cấp hàng hoá, thời hạn giao nhận mà không cần phải thông qua chủ thể trung gian nào. Hay tại thị trường hàng hoá giao sau ngoài sở, các bên có thể chủ động thoả thuận với nhau việc mua, bán một lượng hàng hoá nhất định với các điều khoản về chất lượng, giá cả và thời điểm giao hàng trong tương lai nhất định mà không thông qua tổ chức nào. Nhưng đối với hoạt động mua bán hàng hoá thông qua sở giao dịch hàng hoá, thoả thuận mua bán hàng hoá của các bên nhất thiết phải thực hiện thông qua sở giao dịch hàng hoá. Sở giao dịch hàng hoá đóng vai trò trung gian, kết nối quan hệ mua bán hàng hoá của các bên mua bán hàng hoá. Để tham gia được vào quan hệ mua bán này, người mua và người bán phải đáp ứng được những yêu cầu nhất định do sở giao dịch hàng hoá đặt ra. Việc mua bán được diễn ra theo trình tự, thủ tục chặt chẽ, thống nhất theo quy định của sở giao dịch hàng hoá.

Thứ ba, chỉ một số hàng hoá nhất định đáp ứng các tiêu chuẩn do sở giao dịch hàng hoá quy định mới được mua bán thông qua sở giao dịch. Như vậy, không phải tất cả các loại hàng hoá trên thị trường thông thường đều được đưa vào giao dịch ở Sở Giao dịch Hàng hoá. Chỉ có một số loại hàng hoá đáp ứng các tiêu chuẩn nhất định do các sở giao dịch hàng hoá quy định mới được mua bán thông qua sở giao dịch. Những hàng hoá này có thể là những hàng hoá không phải đã có tại thời điểm thoả thuận mua bán của hai bên mà nó sẽ hình thành trong tương lai, tại thời điểm giao hàng do hai bên thoả thuận. Việc giới hạn loại hàng hoá được phép giao dịch thông qua sở giao dịch là phù hợp với tính chất của mua bán hàng hoá trên thị trường hàng hoá giao sau và phù hợp với quy định của pháp luật các nước trên Thế giới.

Thứ tư, giá cả của hàng hoá do các bên mua bán thoả thuận là giá của hàng hoá đó tại thời điểm giao kết hợp đồng và thời gian giao hàng được xác định tại thời điểm trong tương lai. Đây cũng là điểm đặc trưng của mua bán hàng hoá thông qua sở giao dịch hàng hoá, là điểm khác biệt cơ bản đối với các hoạt động mua bán hàng hoá thông thường. Trong quan hệ mua bán hàng hoá thông thường, sau khi các bên mua, bán đã thoả thuận xong với nhau về việc mua bán hàng hoá thì bên mua có nghĩa vụ trả tiền cho bên bán và nhận hàng hoá, bên bán nhận tiền và có nghĩa vụ giao hàng hoá cho bên mua, khi đó quan hệ mua bán sẽ chấm dứt. Nhưng trong quan hệ mua bán hàng hoá thông qua Sở Giao dịch Hàng hoá, tại thời điểm thoả thuận, các bên đồng ý mua, bán một lượng hàng hoá với giá của hàng hoá đó tại thời điểm giao kết nhưng việc giao hàng của bên bán cho bên mua lại diễn ra tại thời điểm trong tương lai. Quyền và nghĩa vụ của các bên sẽ phát sinh tại thời điểm giao kết hợp đồng và chấm dứt khi các bên hoàn thành nghĩa vụ giao nhận hàng hoá tại một thời điểm trong tương lai do hai bên ấn định. Điều này xuất phát từ đặc trưng của hàng hoá trong quan hệ mua bán hàng hoá thông qua sở giao dịch là những hàng hoả có thể đã có, có thể được hình thành trong tương lai.

Thứ năm, hình thức mua bán hàng hoá thông qua sở giao dịch hàng hoá là hợp đồng. Tuy tại khái niệm không chỉ rõ hình thức mua bán hàng hoá thông qua Sở Giao dịch Hàng hoá là hợp đồng song quy định "... với giá được thoả thuận tại thời điểm giao kết hợp đồng” trong Luật thương mại năm 2005 đã gián tiếp quy định hình thức của giao dịch này là hợp đồng.

Như vậy khái niệm mua bán hàng hoá qua Sở Giao dịch Hàng hoá tại Luật Thương mại năm 2005 đã thể hiện đầy đủ bản chất của giao dịch hàng hoá trên thị trường hàng hoá giao sau tập trung và cơ bản phù hợp với quy định của pháp luật các nước trên thế giới. Quy định này của Luật cũng đã khẳng định Nhà nước thừa nhận về mặt pháp lí đối với hoạt động này trong giao lưu thương mại ở Việt Nam và bước đầu tạo cơ sở pháp lí để nó được diễn ra trên thực tế.

Tóm lại, Luật Thương mại năm 2005 mới chỉ dừng lại ở việc đưa ra khái niệm về mua bán hàng hoá qua Sở Giao dịch Hàng hoá mà chưa đi vào quy định các vấn đề cụ thể về tổ chức và hoạt động mua bán hàng hoá qua sở giao địch. Hiện các quy định chi tiết về tổ chức và hoạt động mua bán hàng hoá qua Sở Giao dịch Hàng hoá đã được ghi nhận trong Nghị định của Chính phủ số 158/2006/NĐ-CP ngày 28/12/2006. Tuy nhiên, đó chỉ mới là những căn cứ pháp lí cho việc ra đời của sở giao dịch hàng hoá ở nước ta. 

Hợp đồng mua bán hàng hóa qua Sở Giao dịch Hàng Hóa Việt Nam

Các quan hệ mua bán hàng hóa qua Sở Giao dịch hàng hóa Việt Nam được thực hiện thông qua hình thức pháp lý là hợp đồng mua bán. Hợp đồng mua bán hàng hóa qua sở giao dịch có bản chất của hợp đồng mua bán hàng hóa nói chung nhưng được quy định chặt chẽ hơn ...

1. Khái niệm, đặc điểm hợp đồng mua bán hàng hóa qua sở giao dịch:

Phù hợp với tính chất đối tượng của hợp đồng mua bán qua sở giao dịch là hàng hóa tương lai, Luật Thương mại quy định hai loại hợp đồng mua bán qua sở giao dịch hàng hóa là hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng quyền chọn. 

Khoản 2 Điều 64 Luật Thương mại 2005 quy định: "Hợp đồng kỳ hạn là thỏa thuận, theo đó bên bán cam kết giao và bên mua cam kết nhận hàng hoá tại một thời điểm trong tương lai theo hợp đồng.

Khoản 3 Điều 64 Luật Thương mại 2005 quy định: "Hợp đồng về quyền chọn mua hoặc quyền chọn bán là thỏa thuận, theo đó bên mua quyền có quyền được mua hoặc được bán một hàng hóa xác định với mức giá định trước (gọi là giá giao kết) và phải trả một khoản tiền nhất định để mua quyền này (gọi là tiền mua quyền). Bên mua quyền có quyền chọn thực hiện hoặc không thực hiện việc mua hoặc bán hàng hóa đó.

Như vậy, qua 2 khái niệm trên, hợp đồng mua bán hàng hóa tương lai có những đặc điểm sau:

Thứ nhất, hợp đồng mua bán hàng hóa qua sở giao dịch là một hợp đồng song vụ, theo đó các bên cam kết thực hiện các nghĩa vụ trong tương lai.

Thứ hai, đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa tương lai là những hàng hóa chưa hiện hữu tại thời điểm các bên giao kết hợp đồng mua bán (hàng hóa tương lai). Hàng hóa tương lại mua bán qua sở giao dịch, trên thực tế thường là những loại hàng hóa có lượng cung cầu lớn và thường xuyên biến động. 

Thứ ba, hợp đồng mua bán hàng hóa tương lai được giao kết và thực hiện qua Sở Giao dịch Hàng hóa Việt Nam. Việc mua bán qua sở giao dịch hàng hóa giúp các nhà đầu tư có điều kiện dễ dàng và thuận lợi để lựa chọn đối tác của mình. 

 2. Nội dung cơ bản của hợp đồng mua bán hàng hóa qua sở giao dịch:

Hoạt động mua bán hàng hóa qua sở giao dịch được thực hiện một cách chuyên nghiệp, với những đòi hỏi cao về trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Các điều khoản quan trọng được tiêu chuẩn hóa trong hợp đồng mua bán hàng hóa qua sở giao dịch bao gồm: tên hàng, chất lượng, giá trị hợp đồng, thời gian giao hàng, địa điểm giao hàng.

+ Tên hàng (đối tượng hợp đồng): Hàng hóa được mua bán phải thuộc danh mục hàng hóa được phép mua bán qua sở giao dịch.

http://giacaphe.com/wp-content/uploads/2011/07/san-giao-dich-hang-hoa.jpg

+ Chất lượng hàng hóa: chất lượng hàng hóa mua bán qua sở giao dịch thường được phân thành nhiều mực độ chất lượng (phẩm cấp) khác nhau với những tiêu chuẩn chất lượng nhất định. Các hàng hóa mua bán phải đảm bảo các yêu cầu tiêu chuẩn chất lượng theo quy định với từng sở giao dịch hàng hóa cụ thể.

Giá trị hàng hóa được mua bán (trị giá hợp đồng):  trong một hợp đồng mua bán hàng hóa qua một sở giao dịch thường được quy định thống nhất đối với từng loại hàng hóa. Việc quy định giá trị hợp đồng mua bán mỗi loại hàng hóa tương lai một cách phù hợp (không quá lớn những cũng không quá nhỏ) nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc tham gia vào thực hiện giao dịch mua bán của các nhà đầu tư trong thị trường.

Thời điểm giao hàng hóa trong hợp đồng mua bán hàng hóa qua sở giao dịch thường được xác định là tháng giao hàng trong năm. Trong tháng giao hàng đó, ngày giao hàng được quy định cụ thể tùy thuộc vào loại hàng hóa và thị trường. Thời điềm giao hàng là một điều kiện quan trọng để xác định đối tượng được giao dịch trong hợp đồng mua bán hàng hóa qua sở giao dịch. 

Ví dụ: hồ tiêu là đối tượng của hợp đồng kỳ hạn mua tháng 5 năm 2005 khác với hồ tiêu kỳ hạn mua bán hồ tiêu tháng 7 năm 2005.

+ Địa điểm giao hàng trong hợp đồng mua bán hàng hóa qua sở giao dịch thường quy định bởi Sở Giao dịch Hàng hóa Việt Nam. 

 3. Quyền và nghĩa vụ các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa qua sở giao dịch:

Quyền và nghĩa vụ các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa qua sở giao dịch có sự khác nhau nhất định giữa hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng quyền chọn, phù hợp với tính chất của từng loại hợp đồng này. 

Điều 65 Luật Thương mại 2005 quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng kỳ hạn:
+ Trường hợp người bán thực hiện việc giao hàng theo hợp đồng thì bên mua có nghĩa vụ nhận hàng và thanh toán.

+ Trường hợp các bên có thoả thuận về việc bên mua có thể thanh toán bằng tiền và không nhận hàng thì bên mua phải thanh toán cho bên bán một khoản tiền bằng mức chênh lệch giữa giá thoả thuận trong hợp đồng và giá thị trường do Sở giao dịch hàng hoá công bố tại thời điểm hợp đồng được thực hiện.

+ Trường hợp các bên có thoả thuận về việc bên bán có thể thanh toán bằng tiền và không giao hàng thì bên bán phải thanh toán cho bên mua một khoản tiền bằng mức chênh lệch giữa giá thị trường do Sở giao dịch hàng hoá công bố tại thời điểm hợp đồng được thực hiện và giá thoả thuận trong hợp đồng.

Điều 66 Luật thương mại 2005 quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng quyền chọn:

+ Bên mua quyền chọn mua hoặc quyền chọn bán phải trả tiền mua quyền chọn để được trở thành bên giữ quyền chọn mua hoặc giữ quyền chọn bán. Số tiền phải trả cho việc mua quyền chọn do các bên thoả thuận.

+ Bên giữ quyền chọn mua có quyền mua nhưng không có nghĩa vụ phải mua hàng hoá đã giao kết trong hợp đồng. Trường hợp bên giữ quyền chọn mua quyết định thực hiện hợp đồng thì bên bán có nghĩa vụ phải bán hàng hoá cho bên giữ quyền chọn mua. Trường hợp bên bán không có hàng hoá để giao thì phải thanh toán cho bên giữ quyền chọn mua một khoản tiền bằng mức chênh lệch giữa giá thoả thuận trong hợp đồng và giá thị trường do Sở giao dịch hàng hoá công bố tại thời điểm hợp đồng được thực hiện.

+ Bên giữ quyền chọn bán có quyền bán nhưng không có nghĩa vụ phải bán hàng hoá đã giao kết trong hợp đồng. Trường hợp bên giữ quyền chọn bán quyết định thực hiện hợp đồng thì bên mua có nghĩa vụ phải mua hàng hoá của bên giữ quyền chọn bán. Trường hợp bên mua không mua hàng thì phải thanh toán cho bên giữ quyền chọn bán một khoản tiền bằng mức chênh lệch giữa giá thị trường do Sở giao dịch hàng hoá công bố tại thời điểm hợp đồng được thực hiện và giá thoả thuận trong hợp đồng.

+ Trường hợp bên giữ quyền chọn mua hoặc giữ quyền chọn bán quyết định không thực hiện hợp đồng trong thời hạn hợp đồng có hiệu lực thì hợp đồng đương nhiên hết hiệu lực.

 4. Văn bản pháp luật áp dụng:

Luật Thương mại 2005.

Sàn giao dịch hàng hóa gì ?

1.Sàn Giao Dịch Hàng Hóa New York (New York Board Of Trade (NYBOT)

Là một sàn giao dịch hàng hóa ở New York chuyên để giao dịch các hợp đồng futures và options về đường, bông, cà phê, ca cao, cam, lãi suất, tiền tệ, và các chỉ số.

NYBOT hiện là một công ty con thuộc Sàn giao dịch liên lục địa (IntercontinentalExchange - ICE).

Sàn giao dịch chứng khoán New York có nguồn gốc từ năm 1870 với tên gọi Sàn giao dịch bông New York (NYCE). Vào năm 1998, Sàn giao dịch hàng hóa New York trở thành công ty mẹ của cả Sàn giao dịch bông New York và Sàn giao dịch cà phê, đường, ca cao (CSCE) (thành lập năm 1882), và ngày nay các sàn giao dịch này tập trung lại thành một tổ hợp các chức năng bộ phận cho NYBOT.

Trước vụ sáp nhập, NYBOT là một công ty tư nhân được thành lập bởi Tom Green và Alfredo Wiliams. Hiện tại, tầng sàn của NYBOT được giám sát bởi Ủy ban giao dịch futures về hàng hóa, một cơ quan độc lập của Chính phủ Hoa Kỳ. Mỗi công ty hoạt động trên sàn giao dịch phải cử người môi giới riêng của mình, vì vậy có rất ít nhân viên trên sàn làm đại điện cho những tập đoàn lớn và các nhân viên chỉ ghi lại các giao dịch, không liên quan đến hoạt động mua bán.

Tháng 2 năm 2003, NYBOT đã kí hợp đồng thuê tài chính với Sàn giao dịch thương nghiệp New York (NYMEX) để chuyển đến Trung tâm Tài chính Thế giới (World financial center) sau khi sàn giao dịch của NYBOT bị phá huỷ sau vụ khủng bố 11 tháng 9 năm 2001.

2. HKMEx mới chỉ thực hiện giao dịch đối với vàng, tính theo đơn vị kg và USD, sẽ giao hàng thực tại Hồng Kông. Giờ giao dịch từ 8h sáng đến 11h tối theo giờ địa phương.

Sở giao dịch hàng hóa Hồng Kông (Hong Kong Mercantile Exchange - HKMEx) bắt đầu đi vào hoạt động kể từ hôm nay 18/5, đồng thời đặt mục tiêu đưa các thương nhân hàng hóa thuộc các nền kinh tế phát triển nhanh ở châu Á Thái Bình Dương rời khỏi thị trường hàng hóa Chicago và London để về với sàn giao dịch khu vực.

Sàn giao dịch - vốn dự định hoạt động vào cuối năm 2009 - mới thực hiện đối với 1 mặt hàng là vàng, tính theo đơn vị kg và USD, sẽ giao hàng thực tại Hồng Kông. Giờ giao dịch là 8h sáng đến 11h giờ tối theo giờ địa phương, chéo với thị trường London và New York.

Trước khi đi vào hoạt động, Barry Cheung, giám đốc của HKMEx cho biết, sàn giao dịch bắt đầu kinh doanh với ít nhất 16 thành viên, trong đó bao gồm các tổ chức tài chính, các công ty hàng hóa và một vài công ty môi giới ở Hồng Kông.

HKMEx dự định sau vàng sẽ đưa bạc kỳ hạn vào giao dịch, tiếp đó là giao dịch vàng bằng đồng Nhân dân tệ của Trung Quốc. Các hàng hóa khác như kim loại cơ bản hay nông sản cũng sẽ dần đưa lên sàn.

En + Group Ltd, công ty đầu tư của ông trùm công nghiệp Oleg Deripaska người Nga, Ngân hàng Công Thương Trung Quốc và tập đoàn China Ocean Shipping (Group) Co. đồng thời là chủ sở hữu của sàn này.