Nội dung
DIỄN BIẾN GIÁ KIM LOẠI
| Sản phẩm | Mốc giá đáng chú ý | Kịch bản cần theo dõi |
|---|---|---|
| Bạc | 57,5–59,0 USD/ounce; 63,0–65,0 USD/ounce | Theo dõi phản ứng tại 57,5–59,0; nếu giữ được, chú ý vùng 63,0–65,0 USD/ounce. Nếu phá vỡ, cần theo dõi các vùng hỗ trợ thấp hơn. |
| Bạch kim | 1.700–1.720 USD/ounce; 1.760–1.790 USD/ounce | Theo dõi khả năng duy trì quanh 1.700–1.720; nếu ổn định, chú ý phản ứng tại 1.760–1.790 USD/ounce. |
| Đồng | 6,55–6,60 USD/pound; 6,68–6,72 USD/pound | Theo dõi phản ứng tại 6,55–6,60; nếu phá vỡ, chú ý vùng 6,35–6,40 USD/pound. Phía trên là 6,68–6,72. |
BẠC
TIN TỨC BẠC
- Giá bạc giảm xuống gần 60 đô la một ounce vào thứ Năm, chạm mức thấp nhất trong gần hai tháng do giá dầu và lợi suất trái phiếu kho bạc tăng cao đã lấn át sự hỗ trợ từ dữ liệu lạm phát của Mỹ thấp hơn dự kiến.
- Chỉ số giá tiêu dùng cá nhân (PCE) của Mỹ tăng 0,3% trong tháng 8, thấp hơn mức dự báo 0,4%, trong khi PCE lõi tăng 0,2%, cũng thấp hơn kỳ vọng tăng 0,3%.
- Tính theo năm, lạm phát PCE tổng thể đạt 3,4%, thấp hơn mức dự kiến 3,7%.
- Thị trường hiện dự báo khoảng 38% khả năng Cục Dự trữ Liên bang (Fed) tăng lãi suất vào tháng 10, giảm từ 51% trước khi công bố chỉ số PCE.
- Trong khi đó, giá dầu vẫn ở mức cao do Mỹ và Iran đạt được ít tiến triển trong các cuộc đàm phán bất chấp dấu hiệu phục hồi dòng chảy từ Trung Đông.
- Lợi suất trái phiếu kho bạc cũng leo lên mức cao nhất trong nhiều thập kỷ do lo ngại về lạm phát dai dẳng do ngành năng lượng gây ra, điều này có thể dẫn đến chính sách tiền tệ thắt chặt hơn.
PHÂN TÍCH KỸ THUẬT GIÁ BẠC
Trên khung thời gian H4, giá hiện đã giảm về quanh 60.6 USD/ounce và nằm dưới cả MA50 tại khoảng 63.2 và MA200 tại khoảng 64.9, cho thấy động lượng ngắn hạn đang suy yếu rõ rệt. Trong phiên gần nhất, giá đang kiểm tra vùng hỗ trợ quan trọng 57.5–59.0 USD/ounce, đây là khu vực từng tạo nền tích lũy trước nhịp tăng mạnh trong tháng 8. Nếu giữ được vùng hỗ trợ này, giá có khả năng hình thành nhịp hồi phục kỹ thuật hướng lên vùng 63.0–65.0. Ngược lại, nếu phá vỡ vùng 57.5–59.0, xu hướng giảm có thể tiếp tục mở rộng về các vùng hỗ trợ thấp hơn.

BẠCH KIM
TIN TỨC
- Giá bạch kim kỳ hạn đã tăng lên trên 1.700 USD/ounce, cố gắng phục hồi từ mức thấp nhất trong hai tháng gần đây khi giá dầu giảm bù đắp áp lực từ lợi suất trái phiếu kho bạc cao và đồng đô la Mỹ mạnh.
- Giá dầu thô giảm trong bối cảnh có dấu hiệu cải thiện dòng chảy năng lượng từ Trung Đông hiện đang hỗ trợ các kim loại không sinh lời bằng cách giảm bớt lo ngại về lạm phát và kỳ vọng về lãi suất cao trong thời gian dài hơn.
- Tuy nhiên, lợi suất trái phiếu kho bạc vẫn ở mức cao, với lợi suất trái phiếu 10 năm của Mỹ gần 5,24%, gần mức cao nhất kể từ năm 2007 do lạm phát dai dẳng do năng lượng, nền kinh tế Mỹ kiên cường và các tín hiệu cứng rắn từ các quan chức Cục Dự trữ Liên bang đã củng cố kỳ vọng về việc tăng lãi suất hơn nữa.
- Trong khi đó, các yếu tố cơ bản của bạch kim vẫn còn trái chiều, với WPIC dự báo nhu cầu công nghiệp sẽ tăng 5% vào năm 2026 nhưng nhu cầu ô tô sẽ giảm 4%, dẫn đến thị trường dự kiến dư thừa 265.000 ounce.
- Về lâu dài, nhu cầu sẽ được hỗ trợ bởi sự phát triển nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo.
PHÂN TÍCH KỸ THUẬT GIÁ BẠCH KIM
Trên khung thời gian H4, áp lực chốt lời gia tăng khiến giá giảm mạnh về quanh vùng 1.700–1.720 USD/ounce, đồng thời phá vỡ vùng hỗ trợ 1.760–1.780 USD/ounce. Hiện tại, giá đang giao dịch dưới MA50 tại khoảng 1.761 USD/ounce và MA200 tại khoảng 1.789 USD/ounce, cho thấy động lượng ngắn hạn suy yếu và xu hướng giảm vẫn đang chiếm ưu thế. Vùng hỗ trợ gần cần theo dõi nằm tại 1.700 USD/ounce, nếu giữ được khu vực này giá có thể xuất hiện nhịp hồi phục kỹ thuật lên vùng 1.760–1.790 USD/ounce.

KIM LOẠI ĐỒNG
PHÂN TÍCH KỸ THUẬT GIÁ ĐỒNG
Trên khung thời gian H4, giá đồng điều chỉnh sau khi tăng mạnh lên vùng 6.88–6.93 USD/pound nhưng không thể duy trì đà tăng. Giá hiện quanh 6.66 USD/pound, nằm dưới MA50 khoảng 6.69 nhưng vẫn đang dao động quanh MA200 khoảng 6.65, cho thấy thị trường đang trong giai đoạn kiểm định vùng cân bằng quan trọng. Vùng hỗ trợ gần nằm tại 6.55–6.60, sâu hơn là 6.35–6.40. Ở chiều tăng, vùng 6.68–6.72 là kháng cự gần, trong khi 6.88–6.93 là vùng kháng cự mạnh.

